Nhà Sinh Học Trẻ

Diễn Đàn của những Bạn Trẻ yêu thích Sinh Học
Hôm nay, Chủ nhật 20/10/19 4:56 am

Thời gian được tính theo giờ UTC + 7 Giờ


Nội quy chuyên mục


Không gởi bài xin tài liệu trong chuyên mục này (xem chuyên mục "Tài liệu theo yêu cầu")



Tạo chủ đề mới Gửi bài trả lời  [ 2 bài viết ] 
Người gửi Nội dung
 Tiêu đề bài viết: máu và phan loại mau
Gửi bàiĐã gửi: Thứ hai 02/07/12 12:42 am 
Ngoại tuyến
chaos

Ngày tham gia: Thứ tư 28/03/12 5:22 pm
Bài viết: 3
Đến từ: đại học khoa học huế
Mở đầu.
Cơ thể con người không phải là tổng các cơ quan riêng lẽ, trái lại con người là một thống nhất hình dạng và chức phận của các cơ quan trong cơ thể liên quan mật thiết với nhau. Hình dạng và chức phận của các cơ quan trong cơ thể liên quan mật thiết với nhau. Chúng ta không thể hiểu một cách đúng đắn về cấu tạo cũng như chức phận một cơ quan trong cơ thể, nếu chúng ta tách cơ quan đó ra khỏi cơ thể con người. Giống như Eraditorat (300-250 năm TCN)- là người nghiên cứu giải phẩu và sinh lý cơ thể người nói: “Máu chảy từ phổi qua tâm nhĩ trái rồi xuống tâm thất trái, sau đấy chảy vào động mạch chủ, và theo động mạch đến cơ quan trong cơ thể”. Như vậy, máu là một trong những yếu tố đóng vai trò quan trọng trong cơ thể con người với một cơ chế liên kết các cơ quan mật thiết khác.
Máu là mô liên kết đặc biệt với chất căn bản ở thể lỏng. Máu lưu thông trong cơ thể qua hệ tuần hoàn theo chiều xác định với trọng lượng riêng từ 1,051- 1,060, pH từ 7,35- 7,45. Phần lỏng của máu gọi là huyết tương, có thể đông lại khi ra khỏi mạch. Phần đặc của máu là các tế bào máu (huyết cầu) như hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu nằm trong huyết tương.
Máu đảm nhận nhiều chức năng quan trọng như vận chuyển các chất, cân bằng nội mô, và bảo vệ cơ thể. Vì những lý do trên nên tôi chọn đề tài : “ phân biệt máu và sinh lý cầm máu” làm bài tiểu luận Mô Học của mình. Huy vọng đề tài này sẽ giúp chúng ta có những hiểu biết về nhóm máu, cách truyền máu, và sinh lý cầm máu trong cơ thể.

A/ Phân loại nhóm máu:

Trên màng hồng cầu người, người ta đã tìm ra khoảng 30 kháng nguyên thường gặp và hàng trăm kháng nguyên hiếm gặp. Hầu hết những kháng nguyên yếu chỉ được dùng để nghiên cứu di truyền và quan hệ huyết thống. Tuy nhiên, có hai nhóm kháng nguyên đặc biệt quan trọng có thể gây phản ứng truyền máu đó là hệ kháng nguyên ABO và Rh.
I/ Hệ thống nhóm máu ABO:
1/ Phân loại:
Hệ nhóm máu ABO là hệ nhóm máu được phát hiện đầu tiên bởi Karl Landsteiner (1990) với 4 nhóm máu chính là A, B, O và AB. Trong hệ thống này có hai loại kháng nguyên là A và B nằm trên màng hồng cầu. Bản chất của kháng nguyên ( hay gọi là ngưng kết nguyên) là polysaccarit có mặt trên hồng cầu từ những giai đoạn rất sớm của bào thai. Đồng thời trong huyết tương còn có hai loại kháng thể ( hay gọi là ngưng kết tố) là kháng thể α và β. Kháng thể α có khả năng ngưng kết kháng nguyên A, kháng thể β có khả năng ngưng kết kháng nguyên B.
Người ta dựa vào sự hiện diện kháng nguyên A, B và kháng thể α và β trên màng hồng cầu để phân loại hệ thống nhóm máu ABO.
Bảng 1: Hệ thống nhóm máu ABO.

Tên nhóm máu
Tỷ lệ
KN
trên màng hồng cầu
KT
trong huyết tương
A
41
21,5
A
β
B
9
29,5
B
α
O
3
6
A và B
Không có α và β
AB
47
43
Không có A và B
có α và β
Sự xuất hiện kháng nguyên A hoặc kháng nguyên B trên màng hồng cầu được quy định bởi giene( gien).
Kháng thể α và β được tạo ra bởi các tế bào sản xuất kháng thể. Sau khi sinh, kháng thể chưa xuất hiện trong huyết tương. Hai đến tám tháng sau có thể đứa trẻ mới bắt đầu sản xuất kháng thể( người nhóm máu A thì sản xuất kháng thể β và tương tự cho các nhóm máu khác). Nồng độ kháng thể tối đa từ những năm 8-10 tuổi, sau đó nó sẽ giảm dần.
*Lưu ý: Trong mỗi nhóm máu của hệ ABO, tùy mức độ biểu hiện kháng nguyên trên hồng cầu mà có thể phân thành các dưới nhóm ( ví dụ: nhóm máu A có A1, A2, A3…; nhóm máu O có O, O-Bombay…). Các dưới nhóm trong cùng một nhóm máu có thể có một số khác biệt về tính kháng nguyên-kháng thể nhóm máu và cần lưu ý trong thực hành truyền máu.
2/ Kháng nguyên nhóm máu và bệnh lý:
Nghiên cứu dịch tễ học cho thấy nhóm máu A có nguy cơ dễ mắc bệnh sỏi túi mật, bệnh xơ gan, bệnh ung bướu ở các tuyến nước bọt, bệnh dạ dày và tụy tạng hơn những người ở nhóm máu khác. Người nhóm máu O dễ bị ung thư dạ dày hơn người các nhóm máu khác. Tuy nhiên, vẫn chưa rõ mối liên quan này là ngẫu nhiên hay gián tiếp thông qua một cơ chế hoặc một yếu tố làm dễ nào đó.
3/ Ứng dụng trong truyền máu:
Nguyên tắc truyền máu:
Nguyên tắc chung: không để kháng nguyên và kháng thể tương ứng gặp nhau. Như vậy chúng ta chỉ được phép truyền máu cùng nhóm.
Nguyên tắc tối thiểu: Khi truyền một lượng máu nhỏ(<200ml) không được để kháng nguyên trên màng hồng cầu của người cho gặp kháng thể tương ứng trong huyết tương người nhận. Có thể truyền máu theo sơ đồ kinh điển sau đây:
Sơ đồ 1:
so




*Khi truyền máu khác nhóm ( theo đúng sơ đồ truyền máu) phải tuân thủ các quy tắc sau:
+ chỉ truyền một lần
+ lượng máu truyền không quá 200 ml
+ tốc độ truyền chậm.
Thử phản ứng chéo:
Trước khi truyền máu cần thử phản ứng chéo dù là truyền cùng nhóm.
Hồng cầu của người cho được trộn với huyết tương người nhận trên cùng một phiến kính. Nếu không xảy ra ngưng kết, chứng tỏ người nhận không có kháng thể tấn công hồng cầu người cho. Cũng nên kiểm tra phản ứng giữa huyết tương người cho và hồng cầu người nhận, dù rằng nó rất hiếm gặp khi gây phản ứng truyền máu.
II/ Hệ nhóm máu Rhesus ( Rh):
1/ Phân loại:
Hệ Rhesus ( Rh) là hệ nhóm máu có kiểu hình đa dạng nhất, với khoảng 50 kháng nguyên khác nhau. Hệ thống này có vai trò quan trọng trong truyền máu, chỉ sau hệ ABO.
Có 6 loại kháng nguyên Rh, chúng được ký hiệu là C, D, E, c, d, e. Một người có kháng nguyên C thì không có c và ngược lại, điều này đúng đối với cặp D-d, E-e. Do phương thức di truyền của các yếu tố này, mỗi người chúng ta có 3 kháng nguyên thuộc 3 cặp C-c, D-d, E-e ( chẳng hạn CDE,CDe, cde, cDe…)
Kháng nguyên D là thường gặp nhất và có tính kháng nguyên mạnh nhất nên những người mang kháng nguyên D được gọi là Rh dương, những người không mang kháng nguyên D gọi là Rh âm.
Bảng 2: Hệ thống nhóm máu Rhesus:

Tên nhóm máu
Kháng nguyên D
Kháng thể tự nhiên
Tỷ lệ %
Âu Mỹ
Kinh
(ViệtNam)
Mường
Rh+

Không

85
99,92
100
Rh-
Không
Không

15
0,88
0
2/ Ứng dụng trong trong truyền máu:
Nguyên tắc truyền máu:
Sơ đồ truyền máu 2:






Lưu ý:
- Khi truyền máu: Người nhóm máu Rh âm được truyền máu Rh dương.
Lần 1: không có bất cứ phản ứng tức thì nào xảy ra. Tuy nhiên sau thời gian 2- 4 tuần cơ thể người mang nhóm máu Rh(-) sẽ sản sinh ra lượng kháng thể (kháng thể D) đủ lớn để làm ngưng kết hồng cầu Rh được truyền vào cơ thể. Sau 2-4 tháng nồng độ kháng thể sẽ đạt mức tối đa, khi đó tiếp tục truyền máu Rh.
Lần 2: Gây hậu quả nghiêm trọng trong tai biến: do sự ngưng kết hồng cầu Rh được truyền vào.
- Trong sản khoa: Đối với người phụ nữ Rh âm lấy chồng Rh dương. Khi có thai, thai nhi có thể là Rh dương hoặc âm.
Lần mang thai Rh dương đầu tiên: Một lượng Rh dương của thai nhi sẽ vào tuần hoàn mẹ chủ yếu là lúc sinh và kích thích cơ thể sản xuất kháng thể kháng Rh. Đứa trẻ sinh ra trong lần này không bị ảnh hưởng gì cả.
Lần mang thai tiếp theo, nếu thai Rh dương thì kháng thể kháng Rh của mẹ có thể làm ngưng kết hồng cầu thai nhi và gây các tai biến sẩy thai, thai lưu, hoặc đứa trẻ sinh ra bị hội chứng vàng da, tan máu nặng.
III/ Sự khác nhau cơ bản giữa hệ thống ABO và Rh:
Hệ thống ABO kháng thể được sinh ra một cách tự nhiên, trong khi kháng thể của hệ Rh được sinh ra theo kiểu miễn dịch, nghĩa là trong huyết tương không có sẵn kháng thể tương ứng mà nó chỉ được tạo ra khi người không có Rh được truyền nhiều lần trong máu có Rh.
IV/ Cách xác định nhóm máu:
Để xác định nhóm máu, người ta dùng các huyết thanh chuẩn. Huyết thanh là phần huyết tương không có fibrinogen. Ví dụ: để xác định nhóm máu ABO, người ta dùng 3 loại huyết thanh chuẩn là:
· Huyết thanh chuẩn Antin A (chống A): chứa ngưng kết tố α nên làm ngưng kết hồng cầu có ngưng kết nguyên A.
· Huyết thanh chuẩn Antin B (chống B): chứa ngưng kết tố β nên làm ngưng kết hồng cầu có ngưng kết nguyên B.
· Huyết thanh chuẩn antin AB (chốngAB): chứa ngưng kết tố β nên làm ngưng kết hồng cầu có ngưng kết nguyên A và B.
Làm thí nghiệm: Nhỏ 1 giọt máu muốn xác định vào 3 giọt huyết thanh chuẩn đã được nhỏ sẵn trên một phiến kính và dùng đũa thủy tinh riêng cho mỗi loại, quấy nhẹ. Sau vài phút:
· Nếu 3 giọt huyết thanh máu không bị ngưng kết → máu đem xác định là nhóm máu O.
· Nếu máu bị ngưng kết ở 3 giọt huyết thanh→ máu đem xác định là nhóm AB.
· Nếu nhóm máu chỉ bị ngưng kết ở giọt huyết thanh Antin A và Antin AB→ máu đem xác định là nhóm A.
· Nếu nhóm máu chỉ bị ngưng kết ở giọt huyết thanh Antin B và Antin AB→ máu đem xác định là nhóm B.
Thông qua các cách xác định nhóm máu và khả năng cho nhận của các nhóm máu. Chúng ta có hiểu biết được về các nhóm máu trong cơ thể mình, hiểu biết về vai trò của chúng, đồng thời cho ta biết khả năng truyền máu khác loại cho hợp lý để hạn chế những tác hại sau này.


BÀI viết này còn sơ khai nên mong các thnhf viên còn có những bổ sung gì về máu trao đôit với t dùm nha..hihi

_________________
minhthunguyen


Đầu trang
 Xem thông tin cá nhân  
 
 Tiêu đề bài viết: Re: máu và phan loại mau
Gửi bàiĐã gửi: Thứ hai 06/08/12 10:47 am 
Ngoại tuyến
coaserva
coaserva

Ngày tham gia: Thứ bảy 26/05/12 11:03 pm
Bài viết: 12
hihi...mình cũng đang thắc mắc nhiều vấn đề về các loại máu nè,giờ cũng hiểu được một phần rùi,mà mình chưa xem mình thuộc nhóm máu nào nữa.


Đầu trang
 Xem thông tin cá nhân  
 
Hiển thị những bài viết cách đây:  Sắp xếp theo  
Tạo chủ đề mới Gửi bài trả lời  [ 2 bài viết ] 

Thời gian được tính theo giờ UTC + 7 Giờ


Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến1 khách


Bạn không thể tạo chủ đề mới trong chuyên mục này.
Bạn không thể trả lời bài viết trong chuyên mục này.
Bạn không thể sửa những bài viết của mình trong chuyên mục này.
Bạn không thể xoá những bài viết của mình trong chuyên mục này.
Bạn không thể gửi tập tin đính kèm trong chuyên mục này.

Tìm kiếm với từ khoá:
Chuyển đến:  
cron
POWERED_BY
Vietnamese language pack for phpBB 3.0.x download and support.